HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Xã Đông Cao

BÁO CÁO CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ ĐÔNG CAO

V/v : Tổng kết thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội 7 năm nhiệm kỳ 2004- 2011.        

 

Thực hiện Luật Tổ chức HĐND – UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Thực hiện công văn số:111/UBND-VP ngày 125/02/2011 của UBND huyện Phổ yên. V/v Tổng kết tổ chức hoạt động của UBND nhiệm kỳ 2004- 2011.

Thực hiện Công văn số 409/UBND-VP ngày 11/5/2012 về việc Cung cấp thông tin để xây dựng cổng thông tin điện tử huyện Phổ Yên.

UBND xã Đông Cao báo cáo đặc điểm tình hình, vị trí địa lý, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội từ năm 2005 đến nay và phương hướng nhiệm vụ đến năm 2015 như sau:

UBND xã Đông Cao đánh giá kết quả thành tích hoạt động, sự chỉ đạo điều hành của UBND. Trong việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội của cả nhiệm kỳ 2004- 2011, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện, tạo tiền đề vững chắc cho nhiệm kỳ tới. Đồng thời nghiêm túc kiểm điểm những thiếu sót tồn tại đề ra hướng khắc phục, làm cho bộ máy hoạt động của UBND, các ban, ngành từ xã đến cơ sở bước vào nhiệm kỳ mới đáp ứng ngang tầm  hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ kinh tế xã hội của địa phương trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Nhìn lại tổng quát 7 năm là khoảng thời gian  mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tiếp tục thực hiện thành công có hiệu quả thiết thực trong công cuộc đổi mới của Đảng. Hệ thống các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đã cụ thể hoá quá trình đổi mới đất nước ngày một hoàn thiện, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội cả nước nói chung, xã Đông Cao nói riêng không ngừng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

Bước vào thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của cả nhiệm kỳ, chúng ta đã gặp phải không ít khó khăn. Sản xuất nông nghiệp chịu tác động của thời tiết diễn biến phức tạp, hạn hán rét đậm kéo dài đối với vụ động xuân, úng lụt đối với vụ mùa. Nạn sâu bệnh phá hoại nặng đã làm mất trắng và giảm đáng kể năng xuất sản lượng lương thực hàng năm; dịch bệnh LMLM trong đàn gia súc của 2 tháng đầu năm 2011 đã gây tổn thất nặng nề về kinh tế cho nhà nước và các hộ chăn nuôi. Chỉ tiêu thu ngân sách trên địa bàn chưa đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đời sống một bộ phân nông dân gặp không ít khó khăn do thiếu về kinh nghiệm, nguồn vốn và phương tiện sản xuất. Tình hình trật tự an toàn xã hội vẫn diễn biến phức tạp. Giá cả thị trường nông sản người nông dân làm ra thấp, khó về thị trường tiêu thụ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng và đời sống của nhân dân.

Đứng trước những khó khăn thử thách trên, chúng ta đã kịp thời tiếp thu, vận dụng sáng tạo các chủ trương chính sách của Trung ương, tỉnh, huyện. Các nghị quyết và sự chỉ đạo sát sao của BCH Đảng bộ, phù hợp thiết thực  đến tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương. Trong quá trình tổ chức thực hiện chúng ta có nhiều thuận lợi đó là: Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương chính sách ưu đãi  cho nông thôn nông nghiệp như: Tiếp tục miễn giảm thuế nông nghiệp hàng năm, hỗ trợ đầu tư  nguồn vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn điện, đường, trường, trạm và kênh mương. Từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển, năng xuất sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tình hình an ninh chính trị được giữ vững, tệ nạn xã hội được đẩy lùi. Cơ chế thị trường đã thúc đẩy mạnh nền sản xuất hành hoá, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội. Làm cho nông dân yên tâm phấn khởi tự chủ trong sản xuất góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần trong nông thôn, nông nghiệp.

Từ những thực tiễn trong 7 năm qua, chúng ta khẳng định rằng, toàn đảng, toàn dân ta đã đoàn kết một lòng khắc phục khó khăn. Nhận định và vận dụng đúng thời cơ,  tranh thủ khai thác các điều kiện thuận lợi, phát huy thúc đẩy tiềm năng nội lực được nhân dân đồng tình ủng hộ. Từ đó chúng ta đã dành được những thành tích to lớn trong suốt nhiệm kỳ 2004- 2011 trên các mục tiêu kinh tế xã hội lớn như sau:

1. Tốc độ tăng trường kinh tế 13% đạt được mục tiêu đề ra.

2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 60% tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 40% đạt mục tiêu nghị quyết đề ra.

3. Thu nhập bình quân đầu người/năm 9 triệu đồng đạt  mục tiêu đề ra.

4. Tổng sản lượng lương thực bình quân 7 năm đạt 2.713,5 tấn = 90,1% kế hoạch ( mục tiêu  nghị quyết đề ra là 3000 tấn).

5. Tổng thu ngân sách xã 7 năm đạt 11,1 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu đề ra 32,8%, tăng 29,1% so với kế hoạch huyện giao, (kế hoạch huyện giao trong 5 năm là 8,6 tỷ đồng).

6. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp bình quân 7 năm là 2,4 tỷ đồng, tăng 12% so với  mục tiêu nghị quyết đề ra.

7. Cứng hoá kênh mương nội đồng, bê tông hoá đường giao thông nông thôn đạt mục tiêu đề ra. Xây dựng 3 trường học đạt chuẩn quốc gia = 100%, xây dựng trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã năm 2007 đạt mục tiêu đề ra, xây dựng 17 nhà văn hoá = 113,3% kế hoạch .

8. Giải quyết việc làm bình quân là 149 lao động/năm, tăng 49% so với  mục tiêu đề ra (mục tiêu nghị quyết hàng năm giải quyết việc làm cho 100 lao động). Giảm số hộ nghèo theo tiêu chí mới còn 4,6% (mục tiêu nghị quyết là 6,5%).

9. Giảm tỷ suất sinh thô đến năm 2011 đạt 0,29%0 (mục tiêu kế hoạch là 0,3%0 ).

10. Bình quân trong nhiệm kỳ số hộ gia đình văn hoá đạt 76,4%, khu dân cư tiên tiến đạt 67%, số xóm đạt xóm văn hoá đạt 20%, cơ quan văn hoá đạt 100% (mục tiêu nghị quyết đề ra 80% số hộ gia đình văn hoá, 70% số xóm đạt khu dân cư tiên tiến, 30% số xóm đạt xóm văn hoá) .

11. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội , hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân.

Để thực hiện hoàn thành các mục tiêu mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIX  và Nghị quyết HĐND xã khoá 17 đã đề ra. UBND xã đã tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể như sau :

Phần I

 VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CƠ CẤU UBND

I- Số lượng, cơ cấu, chất lượng thành viên UBND xã.

Trong nhiệm kỳ 2004-2011 UBND xã có 3 thành viên(Nam) trong đó 1 thành viên đảm nhiệm chức Chủ tịch UBND, 1 phó Chủ tịch, 1 uỷ viên phu trách trưởng BCH QS xã. 100% thành viên UBND là đảng viên và trình độ học vấn THPT, 1 thành viên dưới 35 tuổi, 2 thành viên dưới 45 tuổi, 2 thành viên có trình độ Trung cấp chuyên môn, 3 thành viên có trình độ trung cấp chính trị. So với nhiệm kỳ 1999-2004 tăng 33,3%  thành viên UBND có độ tuổi dưới 35 tuổi, 26,7% trình độ chuyên môn và 40% trình độ lý luận chính trị.

II- Tổ chức các chức danh chuyên môn thuộc UBND xã.

UBND xã có 7 tổ chức các chức danh chuyên môn theo quy định của Nghị định số: 114 và 121/2003/NĐ-CP và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ đó là: Ban chỉ huy QS , Công an, Văn phòng- Thống kê, Kế toán- Ngân sách, Địa chính-Xây dựng, Tư pháp- Hộ tịch, Văn hoá- Xã hội. Tổng cộng đến nay được bố trí  11 cán bộ phụ trách trong đó: Cán bộ trong biên chế công chức là 7, cán bộ hợp đồng với huyện là 4 người; cán bộ có trình độ trung cấp chuyên môn và đại học là 11 trong đó trình độ chuyên môn theo đúng chức danh quy định là 6 người; cán bộ có trình độ trung cấp chính trị là 6. Do số cán bộ công chức phần lớn là tuổi đời còn trẻ và 100% có trình độ chuyên môn nên việc bố trí sắp xếp công việc rất thuận lợi và đảm bảo hoàn thành tốt công việc được giao.

Phần II

VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND XÃ.

I- Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND xã.

Trong quá trình chỉ đạo, điều hành cả nhiệm kỳ 7 năm 2004- 2011 của mình, UBND xã Đông Cao luôn thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng Luật tổ chức HĐND, UBND ngày 26/11/2003 và các văn bản luật kác, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước cấp trên. Đặc biệt UBND đã xây dựng ban hành Quy chế làm việc toàn khoá của UBND và Quy chế phối hợp với Công đoàn cơ sở. Trong thực hiện nhiệm vụ UBND luôn chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao tinh thần tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan.Mọi chỉ thị, Quyết định ban hành đều đảm bảo theo nguyên tắc: Đúng luật định, đúng chủ trương chính sách của Đảng, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở. Trong 7 năm qua UBND xã đã ban hành tổng số 1.284 văn bản các loại trong đó: 671 Quyết định, 22 Chỉ thị, 294 Tờ trình và 297 Công văn, không có văn bản nào sai phạm buộc phải thu hồi. Do thực hiện tốt các nội dung quy định trên nên nội bộ cơ quan luôn giữ được sự đoàn kết thống nhất cao và củng cố tăng cường niềm tin với nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội do vậy việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu KT-XH trong nhiệm kỳ 2004-2011 luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu KH mà UBND huyện Phổ Yên giao cho.

 

II- Kết quả thực hiện các nhiệm vụ, thẩm quyền của UBND xã.

1. Lĩnh vực phát triển kinh tế.

a. Sản xuất nông nghiệp :

Trong những năm qua UBND đã tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp đầu tư thâm canh tăng năng suất các loại cây trồng. Tích cực đưa các loại cây trồng có năng suất cao vào sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá. Chỉ đạo BCĐ sản xuất NN, các hợp tác xã dịch vụ NN cung ứng giống, vật tư phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Ban chỉ đạo sản xuất tăng cường công tác canh phòng đồng ruộng, dự thính, dự báo lịch phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Các tổ chức đoàn thể phối hợp tuyên truyền phổ biến khoa học kỹ thuật cho đoàn viên, hội viên và nhân dân. Thường xuyên chỉ đạo nạo vét tu bổ hệ thống kênh  mương tưới tiêu, phát huy hết khả năng của các trạm bơm để phục vụ cho sản xuất. Do chỉ đạo quyết liệt nên hàng năm diện tích lúa gieo cấy đạt  100% kế hoạch . Năng suất bình quân đạt từ 48 đến 52 tạ/ha. UBND chỉ đạo tăng cường gieo trồng vụ ngô đông, diện tích cây ngô đông tăng nhanh năm 2006 là 55 ha, đến năm 2009-2010 đạt 91-97 ha, năng suất đạt 45 tạ/ha. Việc tăng diện tích cây ngô đông đã góp phần tăng tổng sản lượng lương thực hàng năm. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm 2004 đạt 2.605,1 tấn, năm 2006 đạt 2.738 tấn = 90,3% kế hoạch, năm 2008 đạt 2.697,3 tấn = 83,2% kế hoạch,  năm 2009 đạt 2.478 tấn = 83% kế hoạch, năm 2010 đạt 2.899,3 tấn = 97,15 KH . Tổng sản lượng lương thực bình quân chung trong 7 năm đạt 89,93% kế hoạch. Ngoài cây có hạt nhân dân cũng tích cực trồng các loại cây rau màu khác hàng năm như : đậu tương 10 ha, lạc 41 ha, khoai lang 26 ha, sắn 7,9 ha, rau các loại 30 ha, có nhiều hộ đã đầu tư trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như trồng hoa, rau giống các loại cho thu nhập từ 48 đến 50 triệu đồng/ha.

Ngoài trồng trọt thì công tác chăn nuôi cũng được UBND xã quan tâm chỉ đạo. Trước hết là chỉ đạo nhân dân phát triển mạnh chăn  nuôi gia súc, gia cầm đưa các giống vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất, mạnh dạn đầu tư chăn nuôi theo quy mô trang trại, chăn nuôi theo  hướng công nghiệp, chỉ đạo quyết liệt việc tiêm phòng định kỳ cho gia súc, gia cầm, kịp thời khoanh vùng ngăn chặn không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng. Đàn trâu bò năm 2006 có 685 con đến năm 2011 có 815 con tăng 130 con = 19%. Đàn lợn năm 2004 có 5.500 con đến năm 2011 có 6.300 con tăng 800 con = 14,5%. Đàn gia cầm từ 35.000 con năm 2004 đến năm 2011 có khoảng 45.000 con tăng 10.000 con = 268,6% so với đầu nhiệm kỳ. Cùng với việc phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm, được sự giúp đỡ của cấp trên nhân dân còn tích cực nuôi trồng thuỷ sản như cá lóc bông, cá rô phi dòng gíp và các loại cá khác. UBND chỉ đạo kịp thời kiện toàn củng cố mạng lưới thú y  cơ sở, cử một cán bộ phụ trách công tác chăn nuôi thú y xã. Tăng cường chuyển giao kiến thức KHKT giúp nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở một lớp chăn nuôi tiên tiến và một lớp chăn nuôi thú y có 60 học viên tham gia học tập. Chăn nuôi được chú trọng và quan tâm đã góp phần đáng kể vào thu nhập của địa phương, giá trị của chăn nuôi chiếm 50% tổng giá trị của ngành sản xuất nông nghiệp trong xã, từng bước đưa chăn nuôi thành ngành  nghề sản xuất chính trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm, giảm nhanh hộ nghèo ở địa phương .

b. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ :

UBND xã tạo mọi điều kiện thuận lợi động viên nhân dân phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ với các ngành nghề tiềm năng trong xã như: Sửa chữa cơ khí, điện tử, gò hàn, khai thác cát sỏi, sản xuất vật liệu xây dựng,  nghề mộc, nề… bên cạnh các ngành nghề phụ thì số hộ kinh doanh dịch vụ ngày càng tăng. Số hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ năm 2004 là 100 hộ đến năm 2011 phát triển lên 295 hộ tăng 195 hộ = 195%, chiếm 13,6% tổng số hộ trong xã . Có thể nói tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển đã tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho nhân dân. Bên cạnh hoạt động của dịch vụ tư  nhân, UBND đã tiếp tục chỉ đạo các HTXDVNN hoạt động đảm bảo theo đúng luật. BCH Đảng bộ đã ra nghị quyết số 06/NQ-ĐU về việc “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế của HTXDVNN”, chỉ đạo đại hội kiện toàn các ban quản trị HTXDVNN. Nhìn chung các hợp tác xã hoạt động từng bước cung ứng dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển, trong đó hoạt động đạt hiệu quả nhất là HTXDVNN Cẩm La, còn lại 3 HTX hoạt động ở mức độ trung bình.Đến năm 2009 UBND đã chỉ đạo các HTXDVNN thực hiện bàn giao lưới điện nông thôn cho  ngành điện quản lý. Bình quân giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 7 năm ước đạt đạt 2,4 tỷ đồng.

c. Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:

Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư xây dựng còn hạn hẹp, nhưng với phương châm chỉ đạo nhà nước và nhân dân cùng làm, thực hiện công khai dân chủ trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. UBND xã đã chỉ đạo tập trung mọi nguồn vốn đóng góp của nhân dân, tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư của trên để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá xã hội. Do vậy trong nhiệm kỳ qua đã đầu tư xây dựng được 14.498m đường bê tông. Cứng hoá được 6.383 m kênh  mương, nâng cấp đường điện và xây dựng trạm bơm Trà Thị, xây cống Đại Giặc Đông Hạ, đổ bê tông chợ Chã và sân UBND xã, đầu tư xây dựng trạm y tế xã theo  hướng chuẩn quốc gia, xây mới và sửa chữa 6 lớp của trường tiểu học; đầu tư xây dựng mới trường Mầm non và xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia, Xây dựng nâng cấp đài tưởng niệm liệt sỹ thành nghĩa trang liệt sỹ của xã, xoá được 45 nhà tạm, xây được 17 nhà văn hoá, xây dựng mới hội trường UBND xã, nâng cấp và xây thêm 4 phòng nhà làm việc 2 tầng UBND xã và một số các công trình khác. Có thể nói với sự cố gắng nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và  nhân dân công tác xây dựng cơ sở hạ tầng có sự phát triển mạnh phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, làm cho bộ mặt nông thôn từng bước đổi thay.

d. Công tác thu,  chi ngân sách:

UBND xã ra Quyết định giao kế hoạch thu ngân sách ngay từ những tháng đầu năm. Thực hiện thu đúng, thu đủ, tận dụng mọi nguồn thu, sơ tổng kết, động viên, khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác thu, chi ngân sách, do vậy trong nhiệm kỳ qua đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thu ngân sách, trong đó năm 2004 hoàn thành 110% kế hoạch, năm 2007 hoàn thành 103% kế hoạch , năm 2008 hoàn thành 168% kế hoạch,  năm 2009 hoàn thành 136% kế hoạch, năm 2010 hoàn thành 147% KH.

Về chi ngân sách: Thực hiện chi ngân sách theo đúng Luật, đúng kế hoạch phân bổ đã được duyệt, tiết kiệm chi, ưu tiên chi lương, phụ cấp, các hoạt động thường xuyên của Đảng, chính quyền, đoàn thể và chi cho các hoạt động phúc lợi công cộng.

e. Công tác địa chính :

Chỉ đạo quản lý chặt chẽ đất đai trên địa bàn, xử lý các đối tượng vi phạm luật đất đai. Xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2006-2010, có kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm. Phối hợp với phòng Tài nguyên môi trường huyện quy hoạch khu dân cư tập trung trên tuyến đường Chã đi Thanh Xuyên đã cấp đất cho 201 hộ với diện tích 22.2 06 m2. Phối hợp với ban giải phóng mặt bằng huyện kê khai đền bù giải phóng mặt bằng cho dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Thái  Nguyên  với diện tích đất thu hồi là 134.950,5m2, xây dựng quy hoạch khu tái định cư cho các hộ phải di chuyển nhà và đất ở; thực hiện việc cấp đổi  giấy CNQSD Đ theo Quyết định số 1597 của UBND tỉnh Thái Nguyên.

2.Lĩnh vực văn hoá- xã hội

a. Công tác giáo dục :

Công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, chất lượng dạy và học trong các nhà trường được nâng lên, cuộc vận động “ hai không” với 4 nội dung cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thày giáo , cô giáo là tấm gương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo”, Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, được các nhà trường nghiêm túc triển khai. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học. Năm học 2004-2005 và 2006-2007 tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 96%, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THCS đạt 87,1%, năm học 2007-2008 số học sinh lên lớp đạt 91%, số học sinh sinh tốt nghiệp THCS đạt 88,5%, năm học 2008-2009 tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 98%, tốt nghiệp THCS đạt 96,2%; năm học 2009-2010 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 95,5% riêng Trường mầm non có 93,6% học sinh giỏi  ngoan. Cả 3 trường đều đạt trường chuẩn và danh hiệu trường tiên tiến.

Công tác khuyến học, khuyến tài được quan tâm chỉ đạo, hiện nay toàn xã có 24 chi hội khuyến học, trong đó có 13 chi hội xóm, 3 chi hội nhà trường, 8 chi hội dòng họ . Hàng năm UBND xã và hội khuyến học xã đều tổ chức biểu dương khen thưởng cho các em học sinh thi đỗ vào các trường đại học và học sinh giỏi đạt giải cấp tỉnh, do vậy đã khuyến khích đẩy mạnh phong trào thi đua học tập. Số học sinh thi đỗ vào các trường Đại  học và học sinh đạt giải cấp tỉnh ngày càng tăng. Năm 2005 có 5 em đỗ vào các trường đại học, 4 em học sinh giỏi đạt giải cấp tỉnh đến năm 2009 có 17 em thi đỗ vào các trường đại học, 8 em học sinh giỏi đạt giải cấp tỉnh. Năm học 2009-2010 có 26 cháu đỗ vào các trường đại học, 28 cháu đạt giải tỉnh từ KK trở lên trong các kỳ thi HS giỏi tỉnh.

b. Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em :

Tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hoá, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho trạm y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng, chú ý chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em, 100% số bà mẹ có thai và trẻ em trong độ tuổi được tiêm phòng theo quy định. Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh không để dịch bệnh xảy ra trên địa  bàn do vậy trong 7 năm qua không có dịch bệnh lớn về người xẩy ra. Với sự cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, y tế xã đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia vào tháng 7 năm 2007. Thường xuyên đẩy mạnh hoạt động của đội ngũ cộng tác viên dân số, thực hiện các đợt truyền thông lồng ghép, chăm sóc sức khoẻ sinh sản với dân số kế hoạch hoá gia đình, giảm  dần số người sinh con thứ 3, số trẻ em suy sinh dưỡng, vận động áp dụng các biện pháp tránh thai để thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình. Ban thường vụ Đảng uỷ đã ra  nghị quyết số 01/NQ-ĐU ngày 23 tháng 02 năm 2006 về việc: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình”. Các tổ chức chính trị  xã hội nhất là hội phụ nữ và ban dân số – kế hoạch hoá gia đình tích cực tuyên truyền vận động do vậy công tác DS-KHHGĐ thực hiện tốt,  hàng năm cơ bản đạt được chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

c. Công tác văn hoá, thông tin, thể tha

Tập trung tuyên truyền những chủ trương, đường lối, chính sách pháp  luật của Đảng và nhà nước cũng như tuyên truyền việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị của địa phương trên  hệ thống loa truyền thanh của xã và các xóm đồng thời tuyên truyền thông qua hoạt động của MTTQ và các đoàn thể quần chúng với nhiều hình thức phong phú như kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, ngày thành lập các tổ chức hội, tổ chức các hội thi, các hội nghị vv. UBND xã tổ chức thực hiện tốt đại hội thể dục thể thao lần thứ II của xã và Đại hội lần thứ III của huyện  đã thu hút đông đảo nhân dân các xóm tham gia với nhiều môn thi đấu thể thao thiết thực như cầu lông, kéo co, điền kinh, vật, cờ tướng, đẩy gậy vv… ; Lễ hội vui xuân và lễ hội Đền giá haqngf năm tạo đà cho phong trào văn hoá văn nghệ, TDTT trong xã phát triển rộng khắp. Tiếp tục phát động sâu rộng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”và thực hiện tốt việc thực hành tiết kiệm trong việc hiếu, hỷ và lễ hội. Biểu dương khen thưởng các tấm gương người tốt, việc tốt. Hàng năm tổ chức tổng kết, cấp giấy chứng nhận cho các hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá, các xóm đạt xóm văn hoá và khu dân cư tiên tiến.

d. Công tác xoá đói giảm nghè

Được sự quan tâm của toàn xã hội bằng nhiều hình thức giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo  như tạo điều kiện tín chấp cho các hộ nghèo vay vốn ưu đãi của ngân hàng chính sách xã hội với số dư khoảng 1,5 tỷ đồng, ngoài ra còn số vốn vay của ngân hàng nông nghiệp khoảng 6 tỷ đồng. Các đoàn thể chính trị xã hội cũng đã giúp đỡ các hộ nghèo hàng trăm ngày công lao động, giúp đoàn viên, hội viên nghèo những kiến thức, kế hoạch phát triển sản xuất để thoát nghèo. Do quan tâm thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo nên trong nhiệm kỳ qua toàn xã đã xoá được  45 nhà tạm, số hộ nghèo giảm mạnh, năm 2006 có 225 hộ nghèo đến năm 2009 chỉ còn 86 hộ giảm 38,32% , chiếm 4,7% số hộ toàn xã. Đến nay toàn xã có 224 hộ nghèo theo tiêu chí mới = 10,33% và 117 hộ cận nghèo.

e. Thực hiện các chính sách xã hội :

UBND xã quan tâm triển khai giải quyết kịp thời các chính sách xã hội, thăm hỏi tặng quà cho các đối tượng chính sách nhân dịp tết Nguyên đán, ngày thương binh liệt sỹ, ngày quốc tế người cao tuổi. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân, hỗ trợ các hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chi trả đầy đủ, đúng chế độ cho 252 đối tượng chính sách. Hoàn thiện hồ sơ cho 133 đối tượng có huy chương kháng chiến, 82 đối tượng người  nhiễm chất độc hoá học, xét duyệt và làm hồ sơ đề nghị cho 138 đối tượng được hưởng chế độ theo quyết định 142 của Chính phủ, hỗ trợ xây dựng được 8 nhà đại đoàn kết. Thực hiện QĐ số 167/CP của Thủ tướng Chính phủ v/v hỗ trợ xoá nhà dột nát cho 45 hộ.

3. Lĩnh vực An ninh – Quốc phòng

a. An ninh trật tự:

Thường xuyên chỉ đạo nắm chắc tình hình an ninh trên địa bàn, đẩy mạnh phong trào “quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc” công an xã phối hợp với MTTQ và các đoàn thể quần chúng tuyên truyền, cảm  hoá giáo dục người phạm tội, các đối tượng nghiện hút ma tuý. Phối  hợp với lực lượng dân quân thường xuyên tuần tra canh gác, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, duy trì chặt chế chế độ trực bảo vệ an ninh trật tự trong các dịp lễ, tết. An ninh trật tự trên địa bàn được ổn định, giữ vững, không để xảy ra các vụ việc phức tạp. Trong 7 năm, ban công an xã đã tiếp nhận 130 vụ việc, giải quyết tại xã  111 vụ, chuyển công an huyện 19 vụ. Xử lý phạt hành chính nộp ngân sách 18.355.000đ, lập hồ sơ đưa 14 đối tượng đi cai  nghiện. Thực hiện tuần tra kiểm soát giao thông đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn.

b. Công tác quân sự địa phương :

Lực lượng dân quân địa phương thường xuyên được củng cố đủ về số lượng bảo đảm chất lượng. Hàng năm xây dựng kế hoạch giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo quy định, chuẩn bị giáo án, học cụ,  thao trường bãi tập đầy đủ, tổ chức huấn luyện chặt chẽ, kết quả huấn luyện hàng năm đều đạt đơn vị huấn luyện giỏi. Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã thường xuyên được kiện toàn thực hiện tốt công tác tuyển quân bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng, đúng luật. Do vậy hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân, từ năm 2004 đến năm 2010 đã tuyển chọn 85 thanh niên lên đường nhập ngũ bảo đảm chất lượng tốt. UBND chỉ đạo thực hiện tốt pháp lệnh về lực lượng quân dự bị động viên, hàng năm đều tổ chức phúc tra nắm tình hình di bến động để bổ sung kịp thời, thực hiện nghiêm túc kế hoạch huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của cơ quan quân sự cấp trên và đơn vị nhận nguồn, bảo đảm 100% lực lượng DBĐV cho các đơn vị theo kế hoạch, chỉ tiêu và thời gian quy định. Đã tổ chức 3 lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho 270 đảng viên, cán bộ các đoàn thể ở các xóm thuộc đối tượng 5 đạt kết quả tốt. BCH quân sự xã tham mưu cho Đảng uỷ, UBND xã thực hiện tốt các đợt diễn tập chiến đấu trị an và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, tìm kiếm cứu nạn hàng năm đạt hiệu quả thiết thực.

4- Công tác xây dựng chính quyền và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Tập trung chỉ đạo cán bộ ủy viên UBND, cán bộ chuyên môn xã, đội ngũ trưởng xóm, công an viên từng bước đổi mới nội dung hoạt động, tăng cường bám sát cơ sở trên các lĩnh vực, trong nhiệm kỳ qua UBND tập trung chỉ đạo, điều hành có hiệu quả các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh theo nghị quyết của Đảng và kế hoạch nhà nước cấp trên giao. Các cơ quan  chuyên môn trong bộ  máy chính quyền nâng cao tinh thần trách  nhiệm, thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, giải quyết công việc theo cơ chế  “một cửa”, không gây phiền hà tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đến quan hệ làm việc. UBND giải quyết tốt các ý kiến, kiến nghị của cử tri và các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân tạo được lòng tin trong nhân dân đối với chính quyền.

Hoạt động của tư pháp xã có nhiều chuyển biến tích cực, đi vào nề nếp, công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, công tác hoà giải luôn được giải quyết kịp thời ngay tại địa phương hạn chế các đơn, thư khiếu kiện đông người, vượt cấp

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng củng cố bộ máy chính quyền, làm cho chính quyền thực sự là của dân, do dân và vì dân. Trong 7 năm qua chúng ta đã thực hiện tốt nghị định 114/2003/NĐ-CP, Nghị định 121/2003/NĐ­-CPcủa Chính phủ về chế độ đối với cán bộ xã. Bộ máy chính quyền từ xã đến cơ sở được kiện toàn  một bước, đáp ứng với yêu cầu hiện nay. Chế độ đãi ngộ cho cán bộ  mặc dù chưa thoả đáng,  nhưng đã góp phần tăng thêm vai trò trách nhiệm trong công tác chỉ đao điều hành. Chúng ta thường xuyên cải tiến lề nối làm việc theo nghị định 93/CP của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, làm cho bộ máy từ xã đến cơ sở được thực hiện công khai dân chủ, bố trí lồng ghép kiêm nhiệm phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Trong nhiệm kỳ qua chúng ta đã bố trí cho 570 lượt cán bộ từ xã đến cơ sở được tập huấn, đào tạo về lý luận, chuyên môn nghiệp vụ do tỉnh, huyện mở và các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, từ đó trình độ lý luận chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngày một nâng lên. Trong những năm qua chúng ta đã từng bước bố trí, thay đổi  bổ xung một số cán bộ đảm bảo vừa có tính kế thừa, hợp lý về cơ cấu tiêu chuẩn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

*/ Sự phối hợp giữa chính quyền với đoàn thể trong việc xây dựng chính quyền vững mạnh:

Nhìn lại đánh giá tổng quát trong 7 năm qua, sự phối hợp điều hành giữa chính quyền với các tổ chức đoàn thể thực sự có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, đoàn kết nhất trí cao, góp phần cùng toàn Đảng toàn dân trong xã hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội ở địa phương.

- MTTQ đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân, luôn tham gia tích cực trong việc xây dựng chính quyền từ xã đến cơ sở. Thông qua các  cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp . Tổ chức hiệp thương giới thiệu đại biểu có đủ đức, tài tham gia vào bộ máy chính quyền, vận động các tầng lớp nhân dân chấp hành tốt chủ trương đường nối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tham gia tích cực cuộc vận động ủng hộ xã hội, ủng hộ quốc tế. Luôn đi đầu trong phong trào xoá đói giảm nghèo, phong trào xây dựng làng bản văn hoá và khu dân cư tiên tiến. Góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực làm cho văn hoá tinh thần của nhân dân ngày một đổi mới.

- Các đoàn thể chính trị xã hội, xã hội như : Đoàn thanh niên - hội nông dân - hội phụ nữ - hội CCB - hội người cao tuổi, hội cựu TNXP thường xuyên là lực lượng lòng cốt trong việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đi đầu trong phong trào áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất  giữ gìn trật tự xã hội, phối hợp cùng chính quyền giải quyết,  hoà giải các vụ  tranh chấp mâu thuẫn trong nội bộ gia đình, nội bộ nông dân. Giữ gìn tốt nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc, gia đình hạnh phúc. Tích cực tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình dân số KHHGĐ, và nhiều chương trình xã hội khác. Từ những chương trình hành động trên các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội đã đóng góp không nhỏ vào thành tích hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nghị quyết HĐND xã đã đề ra trong suất nhiệm kỳ 2004-2011.

5- Về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

UBND xã có lịch tiếp công dân cụ thể vào thứ 3, thứ 6 hàng tuần do vậy công tác giải quyết các đơn, thư khiếu nại tố cáo của công dân được tiếp nhận và giải quyết kịp thời. Trong 7 năm qua đã tiếp nhận 8 đơn khiếu nại, tố cáo, trong đó đã giải quyết 4 đơn tại xã, 4 đơn chuyển huyện đến nay cơ bản đã giải quyết xong đem lại lòng tin cho nhân dân. Đặc biệt trong nhiệm kỳ qua không có khiếu kiện đông người.

6- Về công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Quán triệt sâu sắc đến toàn thể cán bộ Nghị định số 37/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định số; 01/2010/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 37/2007/NĐ-CP về phòng, chống tham nhũng. Do làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhiệm kỳ qua UBND xã cơ bản thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Song duy nhất có đồng chí Trưởng Công an xã do vi phạm lợi dụng chức quyền nhận tiền hỗ trợ xe công nông của đối tượng đã bị kỷ luật – cách chức Trưởng Công an xã.

7- Về công tác thông tin, báo cáo, thực hiện kỷ luật hành chính.

Trong nhiệm kỳ qua UBND xã trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ luôn bám sát với các Nghị quyết của BCH Đảng bộ, nghị quyết HĐND xã và các văn bản chỉ đạo của tỉnh, huyện. Mọi chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước và các quy định của địa phương được thông tin quán triệt cho mọi cán ựô đảng viên trong cơ quan lắm được tạo nên sự thống nhất cao và không khí dân chủ đoàn kết trong cơ quan do vậy 7 năm qua UBND xã luôn hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ KT-XH, kế hoạch nhà nước giao, được UBND huyện biểu dương khen thưởng.

III - Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm :

Dưới ánh sáng nghị quyết đại hội X của Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái  Nguyên lần thứ 17 và nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Phổ Yên lần thứ 27. 7 năm qua với sự tập trung lãnh đạo của BCH Đảng bộ và các cấp uỷ chi bộ, sự điều hành tích cực của chính quyền, sự vận động có hiệu quả của MTTQ và các đoàn thể quần chúng, sự cố gắng của toàn thể nhân dân. Đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ của Huyện uỷ – HĐND- UBND và các ban ngành, đoàn thể của huyện đối với xã. Thành tựu mà xã Đông Cao phấn đấu đạt được trong 7 năm qua có thể khẳng định : Chúng ta đã cơ bản hoàn thành được các mục tiêu kinh tế – xã hội mà nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XIX đã đề ra. Nền kinh tế của địa phương có bước phát triển khá, sự nghiệp y tế, văn hoá xã hội, giáo dục, dân số, gia đình và trẻ em có bước tiến bộ đáng kể. Cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư tích cực, với các công trình trọng điểm như đường bê tông nông thôn, cứng hoá kênh mương, xây dựng trạm xá, trường học, chợ Chã, xây dựng nâng cấp đường điện, xây dựng hội trường, nhà làm việc Đảng uỷ, HĐND, UBND xã… an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hệ thống chính trị được củng cố vững chắc  phát huy tốt hiệu quả, đội ngũ cán  bộ được đào tạo bồi dưỡng từng bước chuẩn hoá, trẻ hoá, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện.

Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Chúng ta còn phải phấn đấu rất nhiều và cần nhìn thẳng vào các mặt còn yếu kém tồn tại sau đây:

1. Kinh tế phát triển khá nhưng chưa vững chắc, chưa tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm, chưa khai thác hết tiềm năng của đất đai. Hoạt động của các HTXDVNN chưa theo đúng luật nên chỉ có HTXDVNN Cẩm La hoạt động khá, còn các HTX hoạt động trung bình yếu, chưa thực sự nâng đỡ cho kinh tế hộ gia đình phát triển . Công tác tiêm phòng cho gia súc gia cầm có lúc chưa đạt yêu cầu.

2. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, không có ngành  nghề truyền thống. Lực lượng lao động nhàn rỗi còn nhiều. Chưa gắn được sản xuất nông nghiệp với chế biến tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

3. Công tác huy động nguồn vốn nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, không đồng đều nên còn hai xóm tiến hành làm đường giao thông còn chậm. Các công trình xây dựng do thiếu vốn nên còn kéo dài như : Trạm y tế, trường mầm  non, các phòng học, hội trường UBND xã…

4. Công tác thu chi ngân sách còn mất cân đối, thu không đủ chi, chủ yếu chờ vào cân đối ngân sách của cấp trên, trong khi yêu cầu chi cho hoạt động của Đảng, chính quyền đoàn thể ngày càng tăng.

5. Công tác an ninh chính trị được giữ vững, song trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp như: Trộm cắp, đánh nhau gây mất trật tự xã hội, nghiện hút, tàng trữ buôn bán ma tuý, pháo nổ, cờ bạc, số đề… chưa được ngăn chặn kịp thời.

6. Công tác văn hoá thông tin tuyên truyền chất lượng được nâng lên xong chưa đáp ứng ngang tầm  với nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

Công tác thực hiện tiết kiệm trong việc hiếu ,việc hỷ chưa triệt để. Hiện tượng lợi dụng tự do tín ngưỡng để hoạt động  mê tín dị đoan vẫn nén nút chưa được ngăn chặn.

7. Công tác củng cố bồi dưỡng cán bộ là yếu tố cực kỳ quan trọng, nó quyết định đến những mục tiêu kinh tế - xã hội có hoàn thành hay không, đòi hỏi năng lực, phẩm chất, đạo đức tác phong nề lối làm việc của cán bộ quyết định là cơ bản.

Trong nhiệm kỳ qua trình độ năng lực của một bộ phận nhỏ cán bộ từ xã đến cơ sở còn yếu về trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ ảnh hưởng không nhỏ đến hoàn thành  công việc được giao, có lúc, có nơi chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, giải quyết công việc chưa thấu tình đạt lý, mang nặng theo cảm tính, hay nể nang ,gặp việc phức tạp thiếu nghiên cứu  giải quyết, vụ việc  để kéo dài, có lúc, có nơi còn nóng nảy, nói năng tiếp dân thiếu tế nhị để nhân dân phàn nàn chê trách.

Những tồn tại yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên  nhân khách quan và cả nguyên nhân chủ quan.

Để không ngừng phát huy  những thành tích đã đạt được trong 7 năm qua và khắc phục giải quyết tốt các mặt còn tồn tại yếu kém. UBND xã nhiệm kỳ 2004-2011 rút ra một số bài học kinh  nghiệm chủ yếu như sau :

- Một là: Phải thật sự nghiêm túc tổ chức học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng để nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ đảng viên. Thường xuyên đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” về nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân trong đội ngũ cán bộ, công chức. Phải thật chủ động và tranh thủ được sự quan tâm giúp đỡ của Huyện uỷ, HĐND, UBND và các ban ngành, đoàn thể của huyện.

- Hai là: Tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với hệ thống chính trị. Giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, phát huy vai trò, vị trí, trách nhiệm của người đứng đầu trong các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong đội ngũ cán bộ. Trong quá trình tổ chức thực hiện các chỉ thị nghị quyết của Đảng có sự vận dụng sáng tạo vào thực tế của địa phương và xây dựng thành chương trình hành động cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện, đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống.

- Ba là: Nâng cao vai trò điều hành của bộ máy chính quyền và chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Đảm bảo mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước được tuyên truyền, phổ biến đến nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ để dân biết, dân thực hiện . Lắng nghe ý kiến của nhân dân, giải quyết kịp thời, dứt điểm những kiến nghị, vướng mắc của nhân dân, xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền. .

- Bốn là:  Bảo đảm các chế độ chính sách và quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ có ý thức tổ chức kỷ luật, có năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, có phẩm chất đạo đức tốt và gắn bó với nhân dân được Đảng tin, dân mến.

 

Phần thứ III

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2011-2016

VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

I – PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ:

Trong 5 năm tới chúng ta thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XX nhiệm kỳ 2010-2015 trong điều kiện; Dưới ánh sáng nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI và cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(Sửa đổi) tiếp tục mở đường cho đất nước ta vững bước thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. nghị quyết đại hội Đảng bộ Huyện Phổ Yên lần thứ 28 với mục tiêu phương hướng tập chung mọi nguồn lực, mở rộng thu hút đầu tư,đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, xây dựng Phổ Yên thành Thị xã công nghiệp, tạo điều kiện cho các địa phương trong huyện có bước phát triển mới. trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân Đông Cao đã đạt những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng tạo đà cho xã bước vào thực hiện nhiệm vụ trong 5 năm tới. Đó là điều kiện thuận lợi để Đảng bộ, chính quyền vầ nhân dân xã Đông Cao tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội theo hướng tăng dần tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ kết hợp với xây dựng phát triển nông thôn mới. Tuy nhiên chúng ta cũng sẽ gặp phải không ít những khó khăn thử thách đó là tình hình thế giới, trong nước có  nhiều diễn biến phức tạp, chứa đựng những yếu tố tiềm ẩn khó lường. Giá cả thị trường không ổn định, thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội cũng như đời sống của nhân dân địa phương .

Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh và định hướng phát triển kinh tế , xã hội của huyện Phổ Yên trong  những năm tới. UBND xã nhiệm kỳ 2004-2011 xác định các mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ thực hiện trong nhiệm kỳ 2011-2016 như sau :

1. Mục tiêu tổng quát:

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cán bộ đảng viên, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và của cả hệ thống chính trị, phát huy  mọi nguồn lực cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu  kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu  hạ tầng phát triển kinh tế, xã hội. Đảm bảo quốc phòng an ninh giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội . Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu:

2.1-Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm    12%

2.2-Cơ cấu kinh tế đến năm 2015

- Nông nghiệp :  40%

- Dịch vụ : 40%

- Tiểu thủ công nghiệp : 20%

2.3- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đến năm 2016 đạt 2.900 tấn, bình quân lương thực đầu người 370 kg/năm.

2.4- Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp hàng năm tăng 20% , năm 2016 đạt 4.870.000.000đ.

2.5- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2016 đạt : 20.000.000đ/người/năm.

2.6-Thu ngân sách bình quân hàng năm tăng 5% chỉ tiêu huyện giao.

2.7- Các Trường giữ vững trường chuẩn quốc gia, phấn đấu trường tiểu học đạt trường chuẩn mức độ 2 vào năm 2015, các trường hàng năm đạt danh hiệu tập thể tiên tiến xuất sắc.

2.8 - Tạo điều kiện giải quyết việc làm mới đến năm 2016 cho 1200 lao động.

2.9 - Giảm hộ nghèo xuống dưới 2% theo tiêu chí hiện tại, xoá 100% nhà tạm ,

2.10-Giảm tỷ suất sinh thô hàng năm 0,1%0  , giảm người sinh con thứ 3 từ 30-50% hàng năm.

2.11- Hàng năm có từ 20% xóm đạt xóm văn hoá, 60% xóm đạt khu dân cư tiên tiến, 75% gia đình đạt văn hoá trở lên.

2.12- Xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng của các nhà trường, trạm y tế đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá, hoàn thiện khuôn viên UBND xã đảm bảo cảnh quan sạch đẹp. Bê tông hoá 100% đường giao thông liên thôn, cứng hoá 100% kênh mương nội đồng.

2.13-Hàng năm hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân, quân số tham gia huấn luyện dân quân hàng năm đạt 90% trở lên, kết quả huấn luyện đạt giỏi, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội mỗi năm, đưa từ 4-6 đối tượng đi cai nghiên tại trung tâm cai nghiện cộng đồng

Bản đồ hành chính
Văn bản điện tử Văn bản điện tử
Quảng Cáo
Video
Loading the video...
Liên kết web

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THỊ XÃ PHỔ YÊN THÁI NGUYÊN

Giấy phép phép hoạt động số: 1572/GP-TTĐT do Sở TT&TT cấp ngày 08/12/2017

Địa chỉ: Tổ dân phố 4 - phường Ba Hàng - Phổ Yên - Thái Nguyên

Điện thoại: 84-2803863662 - Fax: 84-2803863662

Email: vanphong.phoyen@thainguyen.gov.vn

Bản quyền thuộc về UBND thị xã Phổ Yên. Ghi rõ nguồn "www.phoyen.thainguyen.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này